2016/11/29

Iran 03: A series of ailing days and the shallow Hijab women...

23th - 30th October 2016
230 km
After leaving Ehsan’s house in Karaj, I didn’t feel better but often dizzy, headache and stomachache. The first day, we could make only 30 km then off to find a place for me to rest. It was an unknown village which we didn’t even see on our map, Orin village. Péter managed to find a storage room of a supermarket for us to take a break and later on, a man who lived on the upper floor of the storage room invited us for lunch and a night at his house. Despite the warm welcoming host, I didn’t recover and started to have diarrhea. We wanted to stay one more night but the host had their own schedule so we had to find another place. After some hours of resting at a electrical tool shop in the next village, we decided to take a bus to the next city, Qom.

Iran 03: Một loạt ngày ốm đau và những phụ nữ Iran trùm khăn lạc hậu...

23-30/10/2016
230 km

Sau khi rời nhà Ehsan ở Karaj, những ngày sau đó tôi không cảm thấy khoẻ hơn mà liên tục bị đau đầu, chóng mặt và đau bụng. Ngày đầu tiên, chúng tôi chỉ đi được 30 km là phải dừng lại để tìm chỗ nghỉ ngơi. Đó là một ngôi làng giữa sa mạc mà thậm chí không hề có trên bản đồ, làng Orin. Péter đi vòng quanh hỏi thăm và được một ông chủ hàng tạp hoá cho nghỉ lại kho chứa hàng của mình. Trưa hôm đó, một người đàn ông sống ở căn nhà phía trên kho chứa đã mời chúng tôi lên nhà mình ăn trưa và ngủ lại đêm đó. Dù được tiếp đãi rất nồng hậu, tôi không cảm thấy khoẻ hơn và bắt đầu có dấu hiệu tiêu chảy. Muốn ở lại thêm một ngày nữa để nghỉ ngơi nhưng chủ nhà có việc bận nên chúng tôi buộc phải đi tiếp để tìm giúp đỡ. Cuối cùng, sau vài tiếng nằm nghỉ tại một cửa hàng thiết bị điện, chúng tôi quyết định bắt xe buýt đi đến thành phố tiếp theo, thành phố Qom.


Irán 02: dzsungel, fekete tea, zöld kiwi és tenger

352 km
2016. október 11-22.

Rudbarból könnyű utunk volt Loulemanba. Út közben meglátogattunk egy szent helyet, és út közben volt, hogy meg is tapsoltak minket egy-egy autóból az utasok (Tour de France!). A sivatagot magunk mögött hagytuk, és minden szépen kizöldült körülöttünk. Mohsen, Qazvinból a második házigazdánk elintézett nekünk egy szállást egy rokonánál, kaptunk egy házat, ami csak a miénk volt egy éjszakára a faluban! Ez azért a bizalom egy új szintje!
Szelfi egy rendőrrel. Ő kérte.

Iran 02: jungle, black tea, green kiwi and sea

352 km
11-22. October 2016
From Rudbar we had an easy way to Louleman. On the way we visited a holy shrine, we got applause from passengers in cars (like Tour de France!) and everything become greener and alive, we left the desert behind us. Mohsen, our second host in Qazvin arranged a place for us to stay overnight: a relative’s house in a village, which was only ours! This is a new level of trust!

Selfie with a policeman. It was his wish.

Iran 02: Rừng núi, trà đen, kiwi xanh và biển

352 km

11-22/10/2016
Từ thị trấn Rudbar, chúng tôi khá dễ dàng để đến được Louleman. Trên đường đi, chúng tôi có ghé thăm một thánh đường Hồi giáo và dọc đường đi, mọi người đều hạ cửa kính ô tô và dành cho chúng tôi những tràng pháo tay cổ vũ nhiệt tình (chúng tôi thấy mình giống như các cua-rơ ở Tour de France vậy). Càng đi thì khung cảnh lại càng xanh mát và có sức sống hơn, chúng tôi đã bỏ sa mạc lại sau lưng thật rồi. Mohsen, chủ nhà thứ hai ở Qazvin của chúng tôi đã sắp xếp để chúng tôi có thể nghỉ ngơi tại nhà của một người họ hàng của mình. Và chúng tôi đã được cho toàn quyền sử dụng cả một căn nhà tiện nghi mà không hề có ai làm phiền. Đây là một cấp độ hoàn toàn mới của lòng tin người!

Selfie với anh cảnh sát giao thông. Anh ấy tự xin chụp nhé!

2016/11/28

Những ngày đầu tiên ở Iran: Sự hỗn loạn và nhà truyền giáo giữa sa mạc

372 km
1-10. October 2016

Những giờ đầu tiên khi chúng tôi đặt chân đến Iran thật là “tuyệt vời”: cổng kiểm soát hộ chiếu làm việc vô cùng chậm chạp, lớp đóng gói của hai chiếc xe đạp thì rách tươm trong quá trình vận chuyển, cà phê thì lại đắt hơn cả đồ ăn, mệnh giá đổi tiền từ ngoại tệ sang đồng Rial của Iran lại cao hơn 10% so với giá chung và ngoài trời thì gió lạnh buốt xương. Chúng tôi thì mệt và buồn ngủ rũ mắt. Nó như một mớ bòng bong mà chúng tôi mắc kẹt lại vì không hiểu chuyện gì đang diễn ra. Và mọi chuyện thì mới chỉ bắt đầu…


2016/11/27

The beginnings in Iran: chaos and missionery in the desert

372 km
1-10. October 2016


It was superb to arrive to Iran: passport check moved slowly, the packaging of the bicycles was thorn apart, a cup of coffee seemed to be more expensive than a main course, the price of Rial was 10% better at the exchange office than the official middle rate and outside cold wind blew. Of course, we were sleepy and tired. It was total chaos, and we couldn’t figure out what was going on. And it was only the beginning.


A kezdetek Iránban: káosz és misszionárius a sivatagban

372 km
2016. október 1-10.


Remek volt hajnalban megérkezni Iránba: az útlevél ellenőrzés lassan ment, a bringák csomagolásai szanaszét szakadtak, úgy tűnt, hogy egy kávé drágább, mint egy főétel, a pénzváltóban 10%-kal jobban váltották a Riált, mint a középárfolyam, kinn pedig hideg szél fújt. Persze fáradtak és álmosak voltunk. Teljes káosz volt, és nem sikerült kibogozni a szálakat. Ráadásul ez még csak a kezdet volt.

2016/11/17

Greece: 12 days of disappointment and crisis of faith...

18th – 30th September 2016  - 280km

We left Gijrocaster to enter the country of „12 Gods on the Olympus” with excitement and optimism. We were even more curious about this country as we had heard so many times about the Greek hospitality and their love of foreign languages (espacially English) from Artemis, our last host in Albania. Well, the truth is, we met about 6 people who could speak English (two of them are French cyclists) and 4 Greeks (all love bicycles) who helped us to find lodging. Sadly, no families invited us to their homes. The sad result was, we had to stop cycling for the first time on our journey to take public transportation to Athens. Of course, in order to get out of this disappointing country as fast as possible. So what actually happened during those 12 days?


The first night in Greece – Heavy rain got into our tent...

Görögország: 12 nap csalódottság és a kitartásunk próbatétele

2016. szeptember 18-30. – 280 km
              
Gijrocastert elhagyva izgatottan és optimistán értünk az „olimposzi 12 istenség” országába. A szokásosnál is kíváncsibbak voltunk, mert sokszor hallottunk a görög vendégszeretetről és az idegennyelvek, különösen az angol után való érdeklődésükről a görögöknek, sokat mesélt róluk Artemis, az utolsó házigazdánk Albániában. Nos, az igazság az, hogy körülbelül hat olyan emberrel találkoztunk, aki beszélt angolul (közöttük volt két francia kerékpártúrázó, a többi négy görög bringás volt, akik segítettek szállást találni nekünk). Sajnos egy család sem fogadott be minket. Ennek az eredménye képpen egy ponton feladtuk a tekerést és az utunk során először buszra kellett szállnunk Athénig. De itt már csak az volt a cél, hogy minél hamarabb túl legyünk ezen az országon. Mi is történt egész pontosan ebben a tizenkét napban?

Az első éjszaka Görögországban a heves zivatar beáztatta a sátrunkat

2016/11/15

Hy Lạp: Mười hai ngày khủng hoảng niềm tin...

Ngày 18-30/09/2016 - 280km

Chúng tôi rời Gijrocaster để tiến vào đất nước của các vị thần La Mã với niềm vui hăm hở và đầy lạc quan. Càng tò mò hơn vì những lời quảng cáo đầy hứa hẹn về lòng mến khách và sự đam mê ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh) của người dân Hy Lạp từ Artemis, chủ nhà cuối cùng ở An-ba-ni của chúng tôi. Sự thật thì, sau 12 ngày cố gắng chống chọi để sống sót ở đất nước này, chúng tôi đã gặp được khoảng 6 người biết nói tiếng Anh (2 trong số họ là phượt thủ đạp xe người Pháp), 4 người nhiệt tình giúp đỡ để chúng tôi tìm được nơi nghỉ qua đêm (cả 4 người đều là những người ham mê đạp xe) và đáng buồn là không một gia đình nào mở rộng cửa đón chúng tôi vào nhà. Kết quả là, chúng tôi, lần đầu tiên trong suốt hành trình, đã phải tạm dừng việc đạp xe và di chuyển bằng phương tiện công cộng đến thành phố A-then để nhanh chóng rời khỏi đất nước đáng thất vọng này. Vậy những gì đã xảy ra trong suốt 12 ngày kinh khủng đó?

Ngày đầu tiên ở Hy Lạp – mưa to dữ dội làm ướt hết lều...

2016/11/10

An-ba-ni. Phần II: Tạm biệt An-ba-ni, chúng tôi đi, nhưng trái tim thì ở lại...



Ngày 13-18/09/2016 – 252 km

Sau khi rời khu cắm trại Pa-emer sát bờ biển, chúng tôi lại tiếp tục tiến về thành phố Berat, một trong những thành phố hiếm hoi ở châu Âu còn lưu giữ được những giá trị lịch sử, văn hoá xuyên suốt những biến động chính trị ở An-ba-ni. Nó cũng là một trong những thành phố lâu đời nhất trên thế giới vẫn còn người sinh sống. Kiến trúc độc đáo và nổi bật của Berat là những ngôi nhà với tường màu trắng, mái ngói màu nâu và rất nhiều cửa sổ, tất cả đều hướng về phía dòng sông Osum. Chính vì thế mà người ta thường nhớ đến nơi này với cái tên: “Thành phố của ngàn ô cửa sổ”.

Những căn nhà nhiều cửa sổ bên dòng sông Osum ở Berat    

Albania. Part II: Bye Albania, we go, but our hearts stay...


13th-18th September 2016 – 252 km


After leaving Pa-emer campsite next to the sea, we continued our way to Berat, one of the rare cities in Europe to preserve almost the historical and cultural values through the political changes in Albania. It’s also one of the oldest inhabited city in the world. The unique architecture of Berat is the houses with white stone walls, brown tile roofs and many windows towards Osum river. That’s why people remember about this city as “The city of thousand windows”.

The houses with many windows towards Osum river in Berat.    

2016/11/09

Albánia II. rész: viszlát Albánia, mi megyünk, de a szívünk itt marad…

2016. szeptember 13-18., 252 km

Miután elhagytuk a tengerparti Pa-emer kempinget, Berat felé folytattuk utunkat, ami azon kevés városok egyike Európában, ami szinte teljesen meg tudta őrizni történelmi és kulturális értékeit az albániai politikai változások közepette. Berat város sajátosságai a fehér falú, barna tetőcserepes házak, amiknek rengeteg ablaka néz az Osum-folyóra. Emiatt hívják az ezer ablak városának is.
           
A házak ezernyi ablaka, amik az Osum-folyóra néznek, Beratban.